Home / Kanji / Học chiết tự Kanji

Học chiết tự Kanji

Ngồi tìm hiểu về cách chiết tự chữ Hán thấy có nhiều cách nhớ chữ Hán rất thú vị cùng với ý nghĩa sâu xa kinh dị. Phần lớn đây là cách nhớ lấy từ chữ Hán TQ, không phải chữ Hán Nhật nên minh tổng hợp lại, loại bỏ các chữ giản thể, lấy từ các trang web để học về sau =)). Một stt rất dài, rất dài

chữ Nhiên ( 然 ) nghĩa là ” thịt chó nướng ”
“Nghiêng nghiêng bóng nguyệt xế tà (月),
Trên lầu chó sủa (犬), canh gà điểm tư (灬)”
Đêm tàn nguyệt 月xế về Tây,
Chó sủa 犬canh chầy, trống lại điểm tư. 灬

Chữ 如: (như, như là, căn cứ theo…) được giải thích như sau
Miệng(口) nói ra thì phụ nữ (女)phải nghe theo, và làm theo như thế
Đừng bạn nào thấy chữ 女 đứng trước chữ 口 thì hiểu theo cách con gái nói gì thì phải làm theo nhé(mà nên hiểu là con gái phải làm theo những gì mình nói)

Bắc sào cho đỉa leo lên (阝)
Tả trên (左), nguyệt dưới (月), lênh đênh mái chèo (辶)
—> chữ TÙY 随

Tiếng khuyển犬 hai mồm口 nghe thảm khốc 哭
Thiên 天không sáo竹 trúc tiếu笑 trần gian.
Là chữ khốc哭
và chữ tiếu笑

Ông vua (王) mà mọc hai sừng (八),
Hai mươi (艹) cái miệng (口) xin đừng quên tôi.
–> chữ THIỆN 善

Hạt thóc ( 、), hạt thóc (、), phẩy đuôi trê ( 冫),
Thập trên (十), nhất dưới (一) , bẻ què lê (厶)
—> chữ PHÁP 法

Cây chôn dưới ruộng ăn ngay được 果
Lửa đốt dòng sông thế mới gay 災

美 mỹ
Con dê ăn cỏ đầu non,
Bị lửa cháy hết không còn chút đuôi.

夫 phu
Thương em, anh muốn nên duyên,
Sợ e em có chữ thiên trồi đầu

勇 dũng
Khen cho thằng nhỏ có tài,
Đầu đội cái mão đứng hoài trăm năm.

思 tư
Ruộng kia ai cất lên cao,
Nửa vầng trăng khuyết, ba sao giữa trời.

威 uy
Em là con gái đồng trinh
Chờ người tuổi Tuất gá mình vô em.

教 giáo
Đất cứng mà cắm sào sâu,
Con lay chẳng nổi, cha bâu đầu vào.

則 tắc
Một vại mà kê hai chân,
Con dao cái cuốc để gần một bên.

章 chương
Chữ lập đập chữ viết,
Chữ viết đập chữ thập.

井 tỉnh
Nhị hình, nhất thể, tứ chi, bát đầu,
Tứ bát, nhất bát phi toàn ngưỡng lưu.

者 giả
Ông thổ vác cây tre, đè bà nhật.

字 tự
Muốn cho nhị mộc thành lâm
Trồng cây chi tử tiếng tăm lâu ngày.

好 hảo
Thiếp là con gái còn son,
Nếp hằng giữ vẹn ngặt con dựa kề.

必 tất
Anh kia tay ngón xuyên tâm.

時 thời
Mặt trời đã xế về chùa.

隨 tùy
Đóng cọc liễu leo, tả trên nhục dưới, giải bơi chèo.

始 thủy
Con gái mà đứng éo le,
Chồng con chưa có kè kè mang thai.

Chữ “Trung” giữ lấy làm đầu
“Nhất” lòng gìn giữ một màu không phai
người sang-trọng, kẻ trang-đài
anh đồ, em hỏi hình-hài chữ chi?
Chữ:貴

Chó nhà 犭 cùng với chó ta 犬
Hai con nói chuyện 言thì ra chữ gì?
Thì ra chữ này : 獄

Lưỡng nhật bình đầu nhật
Tứ sơn điên đảo sơn
Lưỡng vương tranh nhất quốc
Tứ khẩu tung hoành giang.
Chữ: 田

Tựa cây (木) mỏi mắt (目) chờ mong
Người nơi xa ấy trong lòng (心) có hay?
Chữ: 想

Chim chích mà đậu cành tre
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.
(Chiết tự chữ đức 德)

– Đấm một đấm, hai tay ôm quàng
Thuyền chèo trên núi, thiếp hỏi chàng chữ chi ?
– Lại đây anh nói nhỏ em nì

Ấy là chữ mật một khi rõ ràng.

Đấm một đấm hai tay ôm quàng là dáng dấp của bộ miên thuyền chèo là dáng dấp của chữ tất 必, thuyền chèo trên núi, trên chữ sơn 山 có chữ tất 必. Ghép lại chúng ta được chữ mật 密 (bí mật, rậm rạp)

– Đất thì là đất bùn ao,
Ai cắm cây sào sao lại chẳng ngay.
Con ai mà đứng ở đây,
Đứng thì chẳng đứng, vịn ngay vào sào. (Chữ hiếu 孝)


Hán: Thổ
Miệng 口 có dính đất土 thì phải nhổ ra 吐

替 :
tì : thay thế, hộ, giúp
3 người (  二 + 人 ) thay cho 3 người (  二 + 人 ) thay nhau làm việc cả ngày 日 —> 替 tì: thay thế

tồn 存 còn: là chữ Tài 才 đi với bộ Tử 子.Tạm hiểu là: người con có tài thì để ra được của cải ( tồn = còn), nếu bất tài thì chẳng để Tồn ra cái gì hết,chỉ tổ làm phiền cha mẹ.

Tiền 前trước: theo sách: thuộc bộ đao刀. Là một người dừng bước止( chỉ)trên thuyền舟( chu), sau lưng giắt một con dao刀. Tôi đoán ý muốn nói đến người Đứng mũi chịu sào – người phía trước – Tiền 前.

Hậu 後sau.thuộc bộ Xích彳. có chữ Yêu幺, là bé( trong 214 bộ thủ- từ nay tôi xin gõ 214)- tiểu yêu, với xích彳- bước ngắn – và tri夂( 214)- theo sau mà đến( khó nhọc).
Đã Bé, bước ngắn, lại còn Đi theo sau thì tất nhiên phải đi sau( Hậu ) thôi!

chữ Bất不: không , thuộc bộ 一
là chữ tượng hình với hình con chim(^I) bay vút lên trời( -)
, nghĩa là” mất hút”, BẤT khả kiến.

Chữ Thị是- shi4- nghĩa là : Là, phải, đúng. thuộc bộ Nhật日,trên là Nhật日, dưới là chính 正. Đã Chính lại còn ” quang” thì tất nhiên là Phải rồi!
Nhật nguyệt soi đích THỊ
người quân tử Chính nhân ( chữ THị)”

Chữ Ngã 我
Thuộc bộ Qua戈. Là ghép bộ qua và chữ Thủ手. Đây là chữ Hội ý.
Tôi nghĩ ngày xưa, chiến tranh liên miên, để tự khẳng định cái TÔI cửa mình, người Võ sỹ lược lưỡng, tai cầm ngọn giáo: Tôi đây!


phần trên là tay trái, đang bốc thịt 月肉.
Tay trái vừa thò xuống
CÓ ngay miếng Thịt nướng.

CHữ Sỹ học Một biết Mười 士
Chữ Thổ là một cái chồi đâm lên. 土
Chữ Tài, chồi nảy sang bên 才
Chữ Tại là Thổ, Tài trên biến hình. 在

Tử 子khoanh tay thành Liễu了,
Liễu了 độicao高 thành亨 hanh
Hanh亨 thông và hưởng亨 thụ
Do vất vả mà thành

Chàng ơi ! chẳng thấy chàng sang,
Bây giờ chữ “liễu ” 了 nét ngang 一 mất rồi ( tử 子 )!

Trăng 月 kia luồn dưới cỏ 䒑 hoa ,
Chịu dao 刂 kề cổ … chẳng qua vì “tiền ” 前

“Trai Tam Sơn đứng núi Tam Sơn,
Sơn 山 sơn 山 xuất 出 anh hùng hào kiệt ”

Trạng Quỳnh bén mảng xung quanh nhà Đoàn thị Điểm, bị Quan Bảng (tức Đoàn Doãn Nghi, thân sinh Đoàn thị Điểm, trong “truyện Trạng Quỳnh” là bảng nhãn, nhưng theo tài liệu thì đậu hương cống, mở trường dạy học rất có tiếng) tóm được.

Quỳnh nói : “Tôi là học trò, thấy quan trường bình văn, tôi đến nghe trộm” .
Quan Bảng nói : “có phải học trò thì ta ra cho một câu đối , không đối được ta cho ăn đòn ”

Bèn ra câu đối :

Thằng quỷ 鬼 ôm cái đấu 斗 đứng cửa khôi 魁 nguyên

Quỳnh ứng khẩu đối ngay :

Con mộc 木 dựa cây bàng 旁 dòm nhà bảng 榜 nhãn

Chữ Nhẫn: 忍 gồm bộ đao (đao kiếm) 刀 ở trên, dưới là bộ tâm 心 (quả tim, tâm trí, tấm lòng). Chữ Nhẫn có lẽ biểu thị tình huống tác động mạnh mẽ đến tâm (tâm linh) như lưỡi dao chạm vào tim mà vẫn nên bình tĩnh cân nhắc vấn đề, bình tâm mà đối xử.

BẦN 貧
Trong chữ Bần cấu-tạo đến ba phần: trên là chữ bát 八 (bát là tám), kế đến là chữ đao 刀 (đao là dao dùng để cắt chặt ra); hai chữ này họp lại thành chữ phân 分 (phân là chia) dưới cùng là chữ bối 貝 (bối là đồng tiền) Có nghĩa rằng sở-dĩ nghèo là vì có nhiều tiền mà cứ phân phát ra cho thiên-hạ giống như ta có một cái bánh mà chia ra làm tám miếng thì tất nhiên nó sẽ nhỏ dần, do đó nghèo.
Vì thế cái nghèo này là cái nghèo của những tâm hồn lớn, đạo-đức luôn nghĩ đến kẻ khác.
Người tu nên học lấy “chữ Bần” của Thượng-Đế.
Có bài thơ như vầy:
Tròi-trọi mình không mới thiệt BẦN.
Một nhành sen trắng náu-nương chân.
Ở nhà mượn đám mây xanh kịt.
Đỡ gót nhờ con hạc trắng ngần.
Bố-hóa người đời gây mối Đạo.
Gia-ân đồ-đệ dựng nền NHÂN.
Chừng nào đất dậy trời thay xác
Chư Phật, Thánh, Tiên xuống ở trần

Bĩ 否 nghĩa là bế tắc, gồm có chữ bất 不 ở trên, chữ Khẩu 口 ở dưới, là ám chỉ con người không có miệng hay nói khác đi dầu cho có miệng cũng không nói được thành lời, dẫu có nói đi nữa là phải nói theo sự đặt để của người khác

Phân tích chữ chánh 正 thấy có hai chữ Thượng 上 và Hạ 下 hiệp lại, tức là người có tâm chánh thì không xu nịnh người trên, không hiếp đáp người dưới mà đời cho rằng “Thượng đội Hạ đạp”.

Giải 解 thấy có 3 phần: bên trái là chữ Giác 角 là cái sừng. Bên phải là chữ đao 刀 ở trên, là con dao, chữ ngưu 牛 dưới (ngưu là trâu). Tức nhiên muốn giải quyết cái sừng ra khỏi đầu con trâu thì phải dùng con dao mà mổ lấy ra. Trong cách mổ như vậy gọi là giải-phẫu. Cách phẫu thuật phải cẩn thận, kỹ lưỡng, không vội-vã, không hấp tấp thì sẽ thành công.

TÌNH 情 là một sự cảm mến thân thiết nhau. Nếu kể sự dài và lâu phải nói đến tình cảm vợ chồng. Chữ này họp bởi bộ Tâm忄là tấm lòng với chữ Tinh 青 là cái tinh tuý, tốt lành. Hai món nợ này khó đi đôi cho đặng. Là một vấn đề khó giải quyết xưa nay. Hãy nghe

Phân tích chữ KHỔ 苦 thấy có hai phần: phần chính yếu là âm CỔ 古 là xưa, là một việc đã có tự lâu đời rồi mà miệng (khẩu 口) vẫn còn nhắc đến mười (thập 十) lần, tiếp diễn không dứt. Một bộ thảo 艹 艸 là cỏ đặt ở bên trên, nghĩa chung chữ khổ là luật định của vũ trụ không khác, tuy nhiên nếu người biết tu, tức là hoán cải cái khổ này cũng dễ như giọt sương trên ngọn cỏ mà thôi.

Nghĩa 義 thấy có hai phần:
Phần trên là chữ Dương 羊 là con dê, phần dưới là chữ ngã 我 là ta (c’est-à-moi). Dê là một trong ba con vật người xưa thường đem ra tế Thần linh, tế cả Trời đất nữa, như Đàn Nam-giao còn dấu tích, hình ảnh nơi Cung Đình Huế còn đó. Ba con vật đem tế sống như vậy gọi là Tam sanh: Trâu, Dê, Heo. Mỗi một vật này nó phải chịu hy sinh mạng sống thay cho giống loại của nó mà cúng tế, đó là
một việc làm có ân nghĩa vậy: tức là tinh thần Hiến dâng. Còn chữ Ngã là ta đặt ở dưới sự hy sinh, tức là tinh thần phụng sự. Thế nên khi hai chữ này đặt lên nhau thành ra chữ NGHĨA 義 là một đức tính cao đẹp, nó gồm đủ tính cách Hiến dâng và Phụng sự. Đức Hộ-Pháp nói:

Ngục 獄 là nhà giam: gồm có bộ khuyển犭là con chó, thêm phía sau là chữ khuyển 犬, ở giữa là ngôn 言 là lời nói. Hễ là tù rồi thì người ta đối xử như con vật, con chó, có miệng cũng không nói được gì. Người giữ ngục hầu như cũng mất tính người! Nhà tù là để trừng giới kẻ trái pháp-luật.

– Chữ ÂM 陰 bên trái có bộ Phụ 阝 là núi đất; bên phải phía trên là chữ Kim 今 có hình như cái nóc nhà, bên dưới chữ Vân 云 ý nói bị che khuất nên tối tăm. Do đó Âm là chỉ phía mặt trời bị che khuất. Bởi, phía có mặt trời chiếu vào thì sáng sủa ấm áp, cây cối phát triển; còn phía ánh sáng mặt trời bị che khuất thì tối tăm, lạnh lẽo, cây cối không phát triển.
– Chữ DƯƠNG 陽 gồm 2 phần: Bên trái là là bộ Phụ 阝 là núi đất, bên phải có chữ Nhựt 日 là mặt trời đứng trên đường ngang, ý nói mặt trời đã mọc lên khỏi đường chơn trời, bên dưới là chữ Vật 勿 vẽ hình giống các tia sáng rọi xuống. Do đó, chữ Dương có nghĩa là phía có ánh sáng mặt trời chiếu vào, nên sáng sủa.

開 là khai = mở, nở hoa, mới, là hình ảnh hai tay đẩy hai cánh cửa (môn là cửa) 門 ra ngoài

CHỦ 主 Tất cả các yếu-lý để làm một con người toàn thiện là phải đủ 4 đức: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí (tượng chữ vương 王 4 nét). Chữ Chủ 主 sẽ thấy trước tiên là ba vạch liền ☰ tượng trưng cho Tam tài, trên trời, dưới đất, giữa là người. Thêm một nét sổ thẳng qua thành ra chữ Vương 王 . Đặt phía trên một nét chủ.

Gia 家 tại sao chữ thỉ (con heo) lại đặt dưới bộ miên là mái nhà? Bởi người xưa thấy trong gia đình có bàn tay người nữ phái là cần kiệm, chu đáo, lo lắng dành dụm, nuôi vài con heo, xem như bỏ ống để khi chi dụng bán ra có thêm tiền. có câu: Đàn bà thì phải nuôi heo, Thời vận còn nghèo nuối chửa được trâu.

Phục 伏 bên phải bộ nhân 亻bên trái chữ 犬 khuyển, chỉ con chó nằm cạnh bên người. Chữ Phục hàm ý là nằm xuống, phủ phục, áp mặt vào, nghĩa mở rộng là ẩn nấp, trốn tránh, mai phục, hay chỉ sự khuất phục, thuần phục

Thú 趣 nghĩa là thú vui, ham thích: gồm bộ TẨU (走) và âm đọc THỦ (取). Âm THỦ (取) lại gồm NHĨ (耳 mimi Tai) và HỰU (又), tức là “lại nghe thấy”, ý nghĩa là “lấy, lấy về”. Bước ra cuộc sống để tìm lấy những thú vui để mang lại lợi ích, niềm vui cho bản thân mình

Việt 越: nghĩa là vượt qua, Việt Nam, được viết theo lối chữ Triện thời Tây Hán. Chữ tẩu 走 dùng để xác định ý nghĩa và chữ qua 戈 dùng xác định cách phát âm. Chữ Việt giống như một người cầm cái qua (戈). Trong Hán ngữ chữ “qua” (戈) có nghĩa là cái mác (vũ khí)

Diễn 演 (số nét: 14) 1. diễn ra 2. diễn thuyết, diễn giảng, nói rõ 3. làm thử, mô phỏng, tập trước: được ghép đầu tiên bộ THỦY (水) vì đã diễn thì phải nói, văng nước miếng tùm lum, nên bộ chính phải là bộ Thủy, Bên trên là cái nón đội, rất cầu kỳ còn có chỏm nữa bộ Miên (宀), phần dưới là đầu (-), cổ (|), phần thân (田) và 2 chân (八). Cuộc đời giống như một sân khấu, kiếp người giống của một màn kịch, do vậy con người chính là 1 diễn viên trong đó , sẽ có lúc sẽ hiền hoà như 1 dòng sông chảy trôi chảy (Thuỷ), đôi khi phải mạnh mẽ, oai vệ như loài thú dữ (Dần)

HẠ 夏 mùa HÈ (HẠ) tới : mùa hè ĐI DẠO (bộ Tuy 夂 đi chậm, đi dạo) nhìn (MỤC 目) lên ngửa cổ (`) thấy có 1 (一) mặt trời

Quý 貴: sự trung thành (chữ Trung 中) là một thứ ( chữ Nhất 一) bảo bối (chữ Bối) đáng quý, đáng trân trọng.

Trụ 住 1. ở, trú, trọ. 2. dừng lại. Người (亻) làm chủ (主) nơi họ cư ngụ, sinh sống (住)

Sở 所 nơi chốn. Sau cánh cửa 戸 là nơi (所) người xưa dựng rìu 斤 chữ cân [jīn]

Kinh 京 thủ đô. Thực chất đây là chữ tượng hình, vẽ một ngôi nhà trên đồi

品 Bao gồm 3 chữ 口 Khẩu hợp vào nhau
(Ý nghĩa) => Phẩm, Vật phẩm. Chỗ này chắc là giải thích 3 cái mồm chập vào hét to đòi quà ==> vật phẩm (cách giải thích này cho vui để dễ nhớ)

Một chàng trai ướm lời hỏi thăm:
Thấy em cũng muốn làm quen
Lại sợ em có chữ Thiên trồi đầu.
Cô gái thành thực trả lời:
Anh ơi chớ nói thêm rầu
Chữ Thiên trồi đầu lại có vết vai.
Để hiểu được lời đối đáp này, người đọc cần phải giải mã bằng “chìa khóa” chiết tự. Trong lời của chàng trai: Thấy em cũng muốn làm quen – Lại sợ em có chữ Thiên trồi đầu. Ý chàng trai muốn làm quen với người phụ nữ nhưng lại sợ người ta có chồng rồi. Vì chữ Thiên [天] thêm nét đầu cho nhô cao một chút nữa sẽ thành chữ Phu [夫] Chữ Phu [夫] có nghĩa là chồng.
Trong ca dao thể hiện lời đáp của ngời phụ nữ: “Chữ Thiên trồi đầu” tức chỉ chữ phu [夫] nhưng lại có thêm “vết vai” thành chữ Thất [失] nghĩa là mất. Ý người phụ nữ muốn nói, tuy cô đã có chồng nhưng chồng cô cũng đã mất rồi.

Bấy lâu em vắng đi đâu
Bây giờ thiên đã mọc đầu ra chưa?
Và cô gái cũng đã chân thành chia sẽ:
Từ ngày thiếp vắng mặt chàng
Bây giờ liễu đã có ngang ra rồi.
Cũng giống như bài ca dao trên, chàng trai muốn hỏi cô gái có chồng chưa. Cô gái trả lời: “Liễu đã có ngang” tức chữ Tử [子] (chữ Liễu [了] nghĩa là rõ hoặc hết, đồng âm với chữ Liễu [柳] chỉ cây liễu vốn là hình ảnh tượng trưng cho người con gái trong thơ ca cổ liễu yếu đào tơ, phận liễu bồ…), nếu chữ Liễu [了] thêm một nét ngang thì thành chữ Tử [子] có nghĩa là con). Ý cô gái muốn nói, chẳng những cô đã có chồng mà còn có con nữa.
Hoặc:
Ông trời đội mũ đi chơi
Em xin một tấm… ông thời nghĩ sao?
Ông trời tức chữ Thiên [天] mà lại “đội mũ” tức là thêm một nét nhô trên đầu, sẽ thành chữ Phu [夫] có nghĩa là chồng. Hơn nữa, ở câu cuối: “Cho em xin một tấm…” rồi ba chấm thì người học cũng sẽ đoán ra đó là tấm chồng tức chữ Phu [夫].

Bác là người học rộng, hiểu nhiều, uyên bác 博

Bác sĩ phải có lòng nhân ái, thương người, chữ nhân ái 仁 gồm chữ nhị 二 và nhân人 (người) có ý nghĩa hai người mới có lòng nhân ái, người thầy thuốc có bệnh nhân mới có lòng nhân, và người bệnh nhân quý mến người thầy thuốc cũng là nhân, thương yêu nhau. Nếu chỉ có một vế thì sẽ là “tình đơn phương” hay “lương y như dì ghẻ”?.

cuồng
ý: điên

insane điên cuồng mất trí
lunatic điên dại

khuyển犭đòi làm vua đúng là mất trí,điên狂

Hữu
yòu

tay phải 右 thường là tay đưa cơm vào miệng口( trừ người thuận tay trái)


Vương (ông vua)

Tam giới Trời – Đất – Âm ty (3 nét hoành) kết hợp lại bằng nét sổ, ý nói là bá chủ tam giới => ông vua mới có quyền lực như vậy.

Hảo (tốt, hay)

Phụ nữ (女) + đứa bé trai (子), ý nói người phụ nữ mang thai bé trai. Người xưa quan niệm phụ nữ sanh được bé trai là việc tốt, việc hay.

câu chuyện đã qua 10 十cái miệng 口 kể rồi thì trở thành cũ 古

Chữ Xuân

Mùa xuân thì chính là tết.
tết thì phải có đánh bài.
đánh bài thường có 4 người chơi (三 + 人) 3 gạch chính là 3 người cộng thêm chữ Nhân nữa là 4 người.

Thế nhưng đánh đánh bài thì đâu có đánh 1 tiếng hay vài tiếng, đánh bài cả ngày mừ. cộng chữ Nhật vào ta ra được chữ Xuân (三 + 人 + 日ーーー>春)

gồm chữ điền và chữ lực

Người đàn ông là lao động chính trong gia đình
Mà công việc phổ biến nhất ngày xưa là làm đồng

=>Nam nhi 男 là người sử dụng sức lực 力 của mình để gánh vác công việc làm ruộng 田

霜 sương

nước mưa雨 đọng từng giọt trên cây 木 giống giọt nước đọng trên mắt 目 => chính là sương 霜

– Giải nghĩa từ NAM (chữ Hán 男): gồm hai chữ ghép thành. Đó là chữ ĐIỀN 田(là ruộng) và chữ LỰC 力 (sức mạnh). Nghĩa là: người đàn ông phải bỏ sức ra cày ruộng (vì là chủ gia đình).

– Giải nghĩa từ HƯU (休) [là: nghỉ]. Gồm có hai bộ: bộ nhân đứng 亻 và bộ mộc 木. Có nghĩa người ta làm mệt thì tìm đến cây mà nghỉ

– Giải nghĩa từ TÍN (信) [là: tin tưởng]. Gồm hai bộ: bộ nhân đứng 亻 và bộ ngôn 言. Có nghĩa là lời người nói đáng tin.

Nhâm

thai
ý: có thai

phụ nữ 女có thai 妊 thường được cưng chiều như vua 王

Đất thì là đất bùn ao,
Ai cắm cây sào sao lại chẳng ngay.
Con ai mà đứng ở đây,
Đứng thì chẳng đứng, vịn ngay vào sào.

Chữ 孝 nghĩa là hiếu
Cũng có chiết tự: Chữ 孝 này được ghép từ chữ 子 (người con) và chữ 土(đất) cùng với dấu / tượng trưng cho thanh kiếm, với ý nói người con chống kiếm đứng trông phần mộ của bố mẹ. Đúng với quan niệm ngày xưa khi bố mẹ mất thì người con có hiếu là người con chăm lo phần mộ của bố mẹ trong vòng 3 năm !!

hoa

cây cỏ sau một thời gian phát triển sẽ có hoa
cỏ( bộ thảo) hoá( chữ hóa) => hoa


TÍN
là con người 亻 đã nói ra lời 言thì phải giữ lời nói của mình , nghĩa là tạo uy tín 信 cho cá nhân

Thiếp là con gái còn son,
Nếp hằng giữ vẹn ngặt con dựa kề.
Chữ hảo 好


thánh
ý: thánh thần , tài ba

người có một tai 耳 một miệng 口 mà đứng trên vua 王
=> người này hoặc là thánh 聖
hoăc là người tài ba 聖

tai
ý : điêù ko may, tai hoạ

lửa火 tượng trưng cho sự ấm áp và may mắn, nhưng nước sông巛 chảy qua làm lửa tắt, điều may mắn đi mất , có tai hoạ災

sầu
buồn bã

tâm 心trạng con người vào mùa thu 秋thường buồn 愁, buồn vô cớ , tự nhiên buồn

努:làm việc chăm chỉ
Gồm chữ nô ở trên và chữ lực ở dưới.
Nô lệ mà lao động chắc là phải rất siêng năng.

奴: chữ nô;
Chữ nữ bên cạnh hình 2 cánh tay.ám chỉ người phục vụ, làm nô lệ

Chữ 高 gāo: Miêu tả một bức tranh của một thành tháp cao có đỉnh, có nóc, có phần dưới và một lỗ để đi vào bên trong.

Chữ 多: Giống như một bức tranh miêu tả cảnh ngày xưa: Ngày xưa thịt bán ngoài tiệm thường được xâu thành chuỗi và treo lên. Vì thế, 多 nghĩa là nhiều, nhiêu

Chữ 想:nghĩ, nhớ, muốn..
想 bao gồm 3 chữ 心(trái tim), 木(cây), và 目(mắt):Ngồi dưới gốc cây, mắt mở không thôi để suy nghĩ. Ngày xưa có chuyện buồn là hay trốn ra một nơi vắng vẻ suy nghĩ, tĩnh tâm. Có chữ 心 là do suy nghĩ có liên quan đến lí trí, trái tim.

然: Bộ nhục là thịt, bên cạnh là chữ khuyển đặt trên bộ hỏa: Nghĩa là thịt chó nướng..

吉:Mồm kẻ sĩ khi đã nói là phải nói ra những điều hay lẽ dẹp

tẩy
ý : rửa
muốn rửa 洗 cái gì trước tiên先 phải dùng nước氵

Niệm 念: là tuởng nhớ, nhớ đến.
– chữ Niệm (念): gồm chữ Kim (今) ở trên và chữ Tâm (心) ở dưới.
– Lúc nào (今) cũng để nỗi nhớ nhung đầy ắp ở trong lòng(心) là chữ Niệm.

– Chữ ÂM 陰 : gồm bên trái có bộ Phụ 阝 là núi đất; bên phải phía trên là chữ Kim 今 có hình như cái nóc nhà, bên dưới chữ Vân 云 ý nói bị che khuất nên tối tăm…!
– Chữ Âm hàm ý chỉ phía mặt trời bị che khuất sau đỉnh núi, chỉ còn đám mây mờ,…!
– Theo quan niệm dân gian của người Á Đông, thì khi nói người khuất núi, hàm ý đang nói đến người đã quá cố, đã qua đời, người đã đi về cõi âm,..

Một số cách nhớ từ trang reddit VietNam mình tổng hợp lại

Ân nghĩa (恩 – Ân) xuất phát (因 – nguyên nhân) từ tấm lòng (心 – tâm)!
遅れる (trễ)。”Tui bị trễ vì có một cái xác (尸 – thi, xác chết) của con cừu (羊 – dương, cừu) nằm trên đường (辶 – bộ Sước, sự đi lại)
Quả rắm từ 尻 (đít) của ông nghe mùi như 尸 (xác chết), thiệt sự là mùi tởm đến mức khi ông ban ra một quả, liền có 九 (chín) người dính phải và toi mạng
秋 (mùa thu) chính xác là kanji tui thích nè *-* Phần trên 木 (cái cây) nhìn như 千 (một ngàn) nên tui luôn kêu là mùa thu trông như có 1000 (千) cái cây (木) đang rực cháy (火)
Khi ông bận rộn (忙 – mang, bận rộn), tim ông (忄- bộ tâm, tim) như chết ngắt (亡 – vong, chết).
À thì người Nhật sùng bái công việc như nào đấy
豆 (ĐẬU) lật ngang thành trà sữa Koi Thé
Thảo 草, tôi tự dịch ra thành loài cây mọc nhanh thì là cỏ.
片想い là yêu đơn phương ạ T_T nhìn chữ 片 như là hình người đang quì xuống dâng hiến tất cả vậy
念 [Niệm]: Nghĩ, nhớ, là kết hợp của chữ 今 [Kim]: Hiện tại và 心 [Tâm]: Trái tim.
Nhớ, tức là hiện ở trong tim.
親 “thân” gồm 木 “mục” 立 “lập” và 見 “kiến” không khác gì vì cha mẹ (親) là người đứng (立) trên cây (木) mà trông chừng (見) con cái.
tâm đắc nhất là chữ KHINH 軽 nghĩa là nhẹ. Ừ thì tiếng nhật có chữ katakana ヌ trong từ イヌ là con chó. 車 là xe. 土 là đất. Vậy ta đc chọc cái gậy vào đít con chó, nó sẽ khinh công lên cái xe
À tự nhiên nhớ thầy ng Nhật tui có bảo hồi bé học chữ sakura 桜 bằng từ ki (木) tsu(ツ)onna (女) để nhớ cách viết :>
桜 – gồm một cái cây (木) tán lá (⺌) và một người phụ nữ (女) khớp với truyền thuyết về người vợ của samurai bị đâm chết dưới tán anh đào và máu nàng đã nhuộm hồng cho hoa
chữ 嵐 là bão, được viết bởi 風 (gió) ở dưới và (山) núi nằm bên trên, tức là gió mạnh đến nỗi cuốn cả một ngọn núi thì nó là bão đấy
美しい – con dê (羊)to vật vã (大)
Quên (忘) một người là chết (亡) cả trái tim (心)
Chấp nhận (受) tâm ý (心), ấy gọi là yêu (愛)
Tâm sinh tính ~ 性 Tính sinh dục. 性欲 =)))))

Cảm ơn Anh Duy Trieu đã chia sẻ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *